eq sq cq những chỉ số của người thành đạt

Đây là chỉ số dùng để đo lường trí tuệ về cảm xúc của con người và là yếu tố rất quan trọng để quyết định hành vi của người đó. Theo nghiên cứu, những người có chỉ số EQ cao thường là những người có khả năng chịu được áp lực, bình tĩnh trước mọi Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc ( Emotional Intelligence , hoặc Emotional Quotient - EQ). Cùng testiq.vn khám phá Top 10 chỉ số thông minh hoàn hảo của con người (Iq, Eq, Aq, Fq, Cq, Sq, Pq,..) 1. Chỉ số EQ - Emotional Quotient. Chặng đường đi đến đỉnh vinh quang luôn đầy rẫy khó khăn và cạm bẫy. Để vượt qua được mọi thử thách, chúng ta không thể đơn độc chiến Tìm kiếm rèn chỉ số eq , ren chi so eq tại 123doc - Thư viện trực tuyến hàng đầu Việt Nam. Thành viên; Nạp tiền Tải lên. Đăng k ý Đăng nhập . Đăng ký. Đăng nhập. Đăng nhập bằng facebook EQ, SQ, CQ - những chỉ số của người thành đạt Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những EQ hoàn toàn không đối lập vs IQ, một người có chỉ số IQ cao vẫn có thể có chỉ số EQ rất cao. Mục đích của giáo dục là để giúp trẻ phát triển song song cả hai chỉ số này. Tuy nhiên có những người được thiên phú cả 2, nhưng cũng có không ít người thiếu mất cả hai. Vay Tien Nhanh Home Credit. Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient – EQ. Thực tế cho thấy, cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh, người ta đã chứng minh được lý trí, mà đại diện là trí thông minh, không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần neocortex phụ trách suy luận trên não là nhạc trưởng, nó chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những “thiên tài đơn độc” mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng. Sau đó, nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence. EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai. Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội. Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. SQ – Thông minh xã hội Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ. Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể… Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội. CQ – “cái vỗ nhẹ” vào vùng não phải Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo Creative Intelligence và tương ứng CQ. Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản “Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng”. Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể “rèn luyện” được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái “loé sáng” trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra “cái vỗ nhẹ” đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên Tư duy sáng tạo” nhằm mục đích này. PC – Say mê quyền lực Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê Passion Quotient, viết tắt PQ và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp Career Quotient CQ. Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari – nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ – cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình. Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất “ham địa vị” như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực. Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức Moral Quotient, MQ. Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ “có đức có tài” cũng đi liền với nhau. Theo bạn thì chỉ số thông minh quan trọng hơn hay chỉ số cảm xúc quan trọng hơn? Ngoài các chỉ số này chúng ta còn một số chỉ số khác như SQ – CQ… Vậy các chỉ số này là gì và chúng có ảnh hưởng như thế nào đối với sự nghiệp của chúng ta, qua việc khảo sát rất nhiều người thành công trên thế giới, các nhà khoa học đã đưa ra thêm một số chỉ số thông minh khác Đó là thông minh xã hội và Thông minh sáng tạo. AZLifeMastery mời bạn tìm hiểu về những chỉ số thông minh này nhé! Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Chỉ Số Thông Minh – Cảm Xúc Hay Chỉ Số Nào ? EQ, SQ, CQ Tạo Nên Những Người Thành Đạt Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient – EQ. Thực tế cho thấy, cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh, người ta đã chứng minh được lý trí, mà đại diện là trí thông minh, không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần neocortex phụ trách suy luận trên não là nhạc trưởng, nó chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những “thiên tài đơn độc” mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng. Sau đó, nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence. EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai. Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội. Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ. Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể… Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội. CQ – “cái vỗ nhẹ” vào vùng não phải Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo Creative Intelligence và tương ứng CQ. Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản “Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng”. Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể “rèn luyện” được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái “loé sáng” trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra “cái vỗ nhẹ” đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên Tư duy sáng tạo” nhằm mục đích này. PC – Say mê quyền lực Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê Passion Quotient, viết tắt PQ và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp Career Quotient CQ. Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari – nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ – cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình. Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất “ham địa vị” như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực. Xem ThêmHọc Hỏi Kinh Nghiệm Vượt Qua Thử Thách của Chuyên Gia Tài Chính, Tỷ phú Ray DalioTỉ Phú Danh Sách Forbes 2020 Cũng Bị Thổi Bay 51% Tài SảnNhà hiền triết xứ Omaha – Warren Buffett Đầu Tư Kinh Doanh Kiếm Tiền Như Thế Nào?Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức Moral Quotient, MQ. Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ “có đức có tài” cũng đi liền với nhau. Chọn Những Cuốn Sách Hay Tham Khảo Nguồn Vnexpress Tài liệu 4EQ, SQ, CQ - Những chỉ số của người thành đạt pptx ... 4EQ, SQ, CQ - những chỉ số của người thành đạt Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ... Độ - cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành ... gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê Passion Quotient, viết tắt PQ và cùng với nó là Chỉ số nghề... 3 655 2 4EQ, SQ, CQ những chỉ số của người thành đạt ... Độ - cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành ... Đời sống Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt ... dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã 3 415 0 Tài liệu Làm quen với "7 thói quen của người thành đạt " pdf ... "7 thói quen của người thành đạt " Thói quen 1 Luôn chủ động Thay đổi bắt đầu từ bên trong của mỗi người. Người thành công luôn chủ động lựa chọn phản ứng của mình trước ... một bằng những mục tiêu dài hạn. Đừng để động cơ thúc đẩy đạt được mục tiêu che khuất những gì thật sự có ý nghĩa với bạn. Thói quen 3 Ưu tiên cho điều quan trọng nhất Xác định những vai ... thứ tự ưu tiên để dần đạt được điều bạn thật sự mong muốn. Hãy học cách ủy quyền. Đây là bài tập về ý chí , được thực hiện hàng ngày, hàng giờ để trở thành một người sống có trọng tâm. Thói... 4 941 6 Tài liệu Tội phạm tham nhũng-một số vấn đề lý luận pptx ... người có chức vụ quyền hạn thực hiện 9 CHƯƠNG IITỘI PHẠM THAM NHŨNG - THỰC TẾ VÀ NHỮNG ẢNH HƯỞNG TỚI NỀN KINH TẾ 111. Thực tế và những ảnh hưởng của tham nhũng tới nền kinh tế của một số ... cho cỏc quyn v chớnh tr - kinh t - vn hoỏ - xó hi. Do vy hin tng tiờu cc ny c cp, nghiờn cu t nhiu gúc khỏc nhau nhiu lnh vc khỏc nhau chớnh tr - phỏp lý - kinh t -xó hi Mi ngnh khoa hc ... phạm pháp luật do người có chức vụ quyền hạn thực hiện chỉ là sự vi phạm các quy định của từng ngành luật tương ứng khác và có thể không bị coi là tội phạm. - Hậu quả pháp lý của việc thực hiện... 21 894 11 Tài liệu Truyền thông trực tiếp - Phong cách của người chuyên nghiệp pptx ... nghĩa đến từ ngôn ngữ cơ thể và những biểu hiện trên khuôn mặt, 38% đến từ ngữ điệu của lời nói. Chỉ có 7% ý nghĩa của một cuộc tương tác đến từ bản thân ý nghĩa của những từ ngữ đó. Vì vậy, việc ... luôn luôn nằm trong vòng kiểm tra và tầm kiểm soát của người người xung quanh bạn. Họ sẽ chính là người đánh giá, công nhận hay phủ nhận giá trị của bạn. Vì vậy thay vì ngồi thoải mái trong phòng ... không hoàn thành các nhiệm vụ đúng thời hạn nếu như bạn không nói trực tiếp. Ngữ điệu của giọng nói, các cử chỉ biểu hiện trên khuôn mặt và liên lạc bằng mắt có thể giúp nhân viên của bạn hiểu... 3 470 1 Tài liệu Nhượng quyền thương hiệu – Bí quyết của sự thành công pptx ... chống cháy, tất cả những việc này đều có thể được học từ người nhượng quyền. Một người nhượng quyền giỏi sẽ có sự huấn luyện chi tiết và ủng hộ liên tục, bao gồm cả tài liệu, hội họp, thông ... có thương hiệu cho phép một số người ít kinh nghiệm trong một lĩnh vực cụ thể nào đó học hỏi những kĩ năng mới và xây dựng một nền kinh doanh vững chắc dựa trên những hệ thống được tạo dựng ... lĩnh vực này. Vậy thì không cần phải trì hoãn kế hoạch của bạn thêm nhiều năm vì bạn có thể vừa thực hiện kế hoạch của mình vừa học hỏi những kĩ năng mới. Tất cả mọi thứ mà bạn muốn biết,... 3 365 0 Tài liệu CÔNG THỨC TÍNH CÁC CHỈ SỐ TÀI CHÍNH pdf ... hạn. Nói chungthì chỉ số này ở mức 2-3 được xem là tốt. Chỉ số này càng thấp ám chỉ doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn đối vớiviệc thực hiện các nghĩa vụ của mình nhưng một chỉ số thanh toán hiện ... thu/ nợ ngắn hạn. - Chỉ số thanh toán nhanh đo lường mức thanh khoản cao hơn. Chỉ những tài sản có tính thanh khoảncao mới được đưa vào để tính toán. Hàng tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác ... của một chứng khoán.B/ Cc ch s khc1. Ch s thanh ton hiện hành current ratio = tài sản lưu động/ nợ ngắn hạn - Đây là chỉ số đo lường khả năng doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ tài... 2 5,034 84 Xem thêm Để thành công trong công việc và và thành đạt trong cuộc sống, có người cho rằng quan trọng nhất là có chỉ số IQ cao, có người lại cho rằng chỉ số EQ quan trọng hơn .. Vậy, chỉ số IQ, EQ, CQ, … là gì?1. IQ Intelligence Quotient – CHỈ SỐ THÔNG MINH TRÍ TUỆ Chỉ số thông minh IQ được tính theo công thức IQ = AM/AR x 100. Trong đó AM là tuổi khôn, AR là tuổi thực. Tuổi khôn được xác định qua các nghiệm pháp Tests hình vẽ … để kiểm tra khả năng nhớ, suy đoán, tính toán …Chỉ số IQ là một tính trạng số lượng, sự hình thành và phát triển tính trạng này là kết quả tác động cộng gộp của nhiều gen tác động theo cùng một hướng cho nên trị số IQ trong quần thể người là một dãy liên tục theo phân bố Binet phân loại IQ trong quần thể người như sau IQ Biểu hiện a. 140 trở lên Thiên tài b. 120-140 Rất thông minh c 110-120 Thông minh d 90-110 Trung bình e 80-90 Trí tuệ hơi kém f 70-80 Trí tuệ kém g 50-70 Dốt nát h 25-50 Đần độn l 0-25 NguChúng ta mới thấy có những người thật “điêu ngoa”, chửi người khác là “ngu”, nhưng nghe từ này nhiều rồi nên người nghe ít thấy bị xúc phạm hơn khi họ bị chửi là “đần độn” mặc dù ngu có chỉ số IQ thấp EQ Emotional Quotient – CHỈ SỐ THÔNG MINH CẢM XÚC Người ta thường nói “với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”. Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những “thiên tài đơn độc” mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng.EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả SQ Social Quotient SQ – CHỈ SỐ THÔNG MINH Xà HỘI Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ.4. CQ Creative Intelligence – CHỈ SỐ THÔNG MINH SÁNG TẠO Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo Creative Intelligence và tương ứng CQ. Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân PC Passion Quotient – CHỈ SỐ SAY MÊ Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê Passion Quotient, viết tắt PQ và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp Career Quotient CQ.6. AQ Adversity Quotient – CHỈ SỐ VƯỢT KHÓ AQ là viết tắt của Adversity Quotient chỉ số biểu thị khả năng vượt qua nghịch cảnh, bất hạnh, lao đao… gọi tắt là chỉ số vượt khó.AQ là gì? đó là phương thức phản ứng đối với những tình huống khó khăn của cuộc đời; đó là năng lực về phương diện tâm lý, giúp con người tìm ra lối thoát trong những tình huống khó khăm, bế tắc và vượt qua những chướng ngại trên đường đời. AQ là tổng hoà của ý chí và trí tuệ. Dựa vào AQ có thể dự đoán và nhận biết Trong quá trình theo đuổi mục tiêu, ai là người tích cực tiến thủ, có khả năng khắc phục khó khăn, kiên trì đến cùng, phát huy được tiềm năng và giành được thành công Ai là người không chịu nổi thử thách và nửa đường bỏ cuộc; Ai là người bó tay đầu hàng và chẳng làm nổi việc SQ Speech Quotient – TRÌNH ĐỘ BIỂU ĐẠT NGÔN NGỮ SQ là gì? Đây là chữ viết tắt từ tiếng Anh Speech Quotient, có nghĩa là trình độ biểu đạt ngôn ngữ. Chỉ số SQ là thước đo tổng hợp để đánh giá khả năng ngôn ngữ, mức độ biểu đạåt chính xác và hữu hiệu của một cá MQ Moral Quotient – CHỈ SỐ ĐẠO ĐỨC Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức Moral Quotient, MQ. Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ “có đức có tài” cũng đi liền với StQ Stupid Quotient – CHỈ SỐ NGU NGỐC Một chỉ số rất quan trọng nữa đó là Chỉ số ngu ngốc Stupid Quotient, viết tắt là StQ do một người nghi ngờ nhiều về bản thân mình nghĩ ra. Một điều đặc biệt là chỉ số này tồn tại độc lập và không có tương quan gì với các chỉ số kể trên. ——————————​ AQ Adversity Quotient là chỉ số đo khả năng đối xử/quản lý nghịch cảnh, khó khăn, stress, gọi tắt là chỉ số vượt khó. Bên cạnh những đại lượng quá quen thuộc như IQ chỉ số thông minh hay EQ chỉ số cảm xúc, AQ hiện được coi là một trong những chỉ số định lượng các phẩm chất tạo nên thành công của con EQ Đà LỖI THỜI ???Bạn tự hào về chỉ số IQ Intelligence Quotient – chỉ số thông minh của mình. Nó có thể thể hiện trí thông minh “thô” của bạn, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, nó chỉ là 1 yếu tố nhỏ tạo nên thành nha hình thành từ năm 1912, khái niệm IQ đã “thống trị” khá lâu trong quan niệm về thước đo phẩm chất dẫn đến thành công của con theo quan niệm phổ thông, thường được mặc định song hành với khả năng tư duy. Tuy nhiên, sau này, nhà tâm lý học Howard Garner đã mở rộng khái niệm IQ, khi chứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố này đều ảnh hưởng đến thành công của một 1995, Daniel Goleman đã giới thiệu 1 khái niệm mới Năng lực xúc cảm EQ – Emotional Quotient như một yếu tố cơ bản dẫn đến thành công. Sự phát hiện này giải thích tại sao 1 số người không thông minh lý tính IQ nhưng có sự nhạy cảm cao lại thành công hơn những người có chỉ số IQ IQ, EQ và AQ, trong cuốn sách “Thế giới phẳng Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ 21” của nhà báo Thomas L. Friedman, xuất bản lần đầu năm 2005, còn đề cập 2 khái niệm CQ Curiosity Quotient – Chỉ số tò mò và PQ Passion Quotient – Chỉ số đam mê và coi tổng hợp 2 chỉ số này có thể còn cần thiết hơn IQ CQ + PQ > IQ.Năm 1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mới AQ Adversity Quotient trong cuốn sách “Adversity Quotient Turning Obstacles into Opportunities” AQ Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội. Trong đó, ông định nghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước các thay đổi, áp lực và các tình huống khó cuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient Work, bàn kỹ hơn về vấn đề tương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng khái niệm AQ, để có thể mang lại lợi giả khẳng định, AQ giải thích tại sao một số người không hẳn thông minh, hay được giáo dục tốt, đồng thời thiếu hiểu biết xã hội, mà lại thành công trong khi nhiều người khác thất viết ra trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm thực tế từ nhiều nghiên cứu với hàng ngàn giám đốc điều hành và nhân viên trong hàng trăm lĩnh vực kinh doanh đa dạng, cuốn sách này đã nhanh chóng trở thành handbook sổ tay bí quyết thành công ở nhiều tập đoàn, tổ cũng được sử dụng trong những bài tập dành cho các VĐV thể thao Olympic, những trường học, những tập đoàn, doanh nghiệp dùng để đào tạo nhân CHỈ SỐ VƯỢT Sloltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm lý học đi trước, như Abraham Maslow, tác giả của tháp Maslow nổi tiếng; từ Martin Seligman, tác giả của sách “Học lạc quan”, và Stephen R. Covey, tác giả của “7 thói quen của người thành đạt”.Nhiều nhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳng định, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thề làm được như đã từng làm với trí tuệ IQ và cảm xúc EQ.Paul Sloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôi trước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khi đầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương 1 cuộc điều tra xã hội học, với hơn lãnh đạo doanh nghiệp trong hầu hết các lĩnh vực trên thế giới, có nhiều người thuộc tuýp Quitter 5-20%, phần lớn thuộc dạng Camper 65-90%, và chỉ có rất hiếm người thuộc dạng phân định ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn, thử thách trong cuộc đời. Đó là Quitter, Camper và Quitter Là những người dễ buông xuôi. Họ dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1 công việc, 1 dự định và cao hơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, và nhận thất bại, hoặc kết quả không như Camper Là những người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân, và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ dễ hài lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là Climber Là những người có sự kiên định và hoài bão lớn. Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tới những mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng thường là tuýp người không chấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay xở để cải thiện nó tốt đó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớn nhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con Paul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, năng lượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính là một chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống1. Đối diện khó khăn2. Xoay chuyển cục diện3. Vượt lên nghịch cảnh4. Tìm được lối raTheo quan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm “fix”, có nghĩa là phần nhiều thuộc về “thiên phú”, khó có khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đại lượng có thể được rèn luyện để “cải thiện, nâng cấp”.Còn bạn, đã bao giờ bạn tự định lượng chỉ số AQ của mình?Chúc bạn hãy biết phát huy các chỉ số của mình!Sưu tầm EQ, SQ, CQ - những chỉ số của người thành đạt EQ - Trí thông minh cảm xúc Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence, hoặc. EQ SQ CQ - những chỉ số của người thành đạt EQ - Trí thông minh cảm xúc Càng ngày người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ như người ta thường nói với IQ người ta tuyển lựa bạn nhưng với EQ người ta đề bạt bạn . Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắt đầu từ năm 1990 nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence hoặc Emotional Quotient - EQ . Thực tế cho thấy cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh người ta đã chứng minh được lý trí mà đại diện là trí thông minh không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc và chính phần neocortex phụ trách suy luận trên não là nhạc trưởng nó chỉ đạo phối hợp kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những thiên tài đơn độc mà trong thời đại hiện nay tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng . Sau đó nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence. EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ hệ thần kinh chưa trưởng thành có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai nhưng không ít người lại thiếu cả hai. Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm đo bằng con số cụ thể EQ chưa có được một công thức Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắt đầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH New Hampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence, hoặc Emotional Quotient - EQ. Thực tế cho thấy, cảm xúc chỉ đạo trí thông minh có lẽ còn hơn cả logic toán học. Bằng phân tích cấu tạo của bộ não và các xung thần kinh, người ta đã chứng minh được lý trí, mà đại diện là trí thông minh, không có ở dạng thuần túy mà được nuôi dưỡng bởi cảm xúc, và chính phần neocortex phụ trách suy luận trên não là nhạc trưởng, nó chỉ đạo, phối hợp, kiểm soát các cảm xúc đột ngột và gán cho chúng một ý nghĩa. EQ thể hiện khả năng của một người hiểu rõ chính bản thân mình cũng như thấu hiểu người khác ít nhiều giống với khái niệm mà Gardner gọi là trí thông minh trong người và thông minh giữa người. Hơn thế, nó còn là khả năng chế ngự cảm xúc để thích ứng với hoàn cảnh và kiểm soát các cảm xúc. Người có EQ cao do vậy dễ thích nghi, luôn tìm được sự hòa hợp trong một tập thể, dễ dàng nhận được sự hợp tác hơn những "thiên tài đơn độc" mà trong thời đại hiện nay, tính tập thể trong làm việc việc hết sức quan trọng. Sau đó, nhà tâm lý học Daniel Goleman xác định cụ thể và có hệ thống hơn trong tác phẩm của ông mang tên Emotional Intelligence. EQ một phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáo dục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởng thành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, mà mục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những người được thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai. Khác với IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưa có được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩm chất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm, tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội. Càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người ta thường nói "với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn". Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Rộng hơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức những cái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trong cộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thông minh xã hội Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội Social Quotient SQ. Khái niệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòa nhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúng việc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sự kiện, mỗi tình huống cụ thể... Đa số câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ra trên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa để thành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắc chắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội. Bất cứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phải phát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể là sự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khi đó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mới phân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thông minh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giá nữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo Creative Intelligence và tương ứng CQ. Xét cho cùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật và công nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Nhà tâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiên cứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản "Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra những ý tưởng". Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khả năng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể "rèn luyện" được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tập suy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái "loé sáng" trong cái bình thường và đề xuất rất nhiều cách để tạo ra "cái vỗ nhẹ" đó. Cũng chính vì thế, mục tiêu giáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ra những người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngành khoa học mang tên 'Tư duy sáng tạo" nhằm mục đích này. Là bất cứ việc gì cũng chỉ thành công nếu toàn tâm toàn ý dành cho nó. Để đặc trưng cho phẩm chất này người ta đưa ra khái niệm Chỉ số say mê Passion Quotient, viết tắt PQ và cùng với nó là Chỉ số nghề nghiệp Career Quotient CQ. Sự say mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp với năng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân loại. GS. Arindam Chaudhari - nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ - cho rằng những người có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ra những phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoàn thành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nên tìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thành công trong nghề nghiệp của mình. Nếu ca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thì cũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người ta thường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trước đây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất "ham địa vị" như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực. Nhiều người còn đánh giá phẩm chất cá nhân theo Chỉ số đạo đức Moral Quotient, MQ. Vấn đề này không cần bàn nhiều vì đã được thừa nhận chung. Bao giờ cụm từ "có đức có tài" cũng đi liền với nhau. Khi thảo luận về Giáo Dục và Kiến thức chúng ta cần biết đến những khái niệm,tiêu chuẩn lập ra để đánh giá mức độ phát triển tư duy của con người qua các chỉ số IQ Intelligence Quotient – chỉ số thông minh tri thức EQ Emotional Intelligence,Emotional Quotient – Thông minh cảm xúc AQ Adversity Quotient-Chỉ số ý chí PQ Passion Quotient -Chỉ số đam mê SQ Social Quotient -chỉ số hoạt động xã hội CQ Creative Intelligence – chỉ số thông minh sáng tạo IQ à một sinh viên giỏi và thông minh. Cậu luôn có điểm số cao ở hầu hết các mônhọc và là người đứng đầu trong các kỳ thi. Tuy vậy tính của IQ tự cao, khó ra trường IQ được nhiều công ty mời chào nhưng kết quả của các cuộc phỏngvấn lại không khả quan. Đã bảy năm kể từ khi ra trường, IQ vẫn chưa làm đượcnhững gì cậu mong muốn. Tráivới IQ, thời còn đi học EQ không phải là sinh viên giỏi, gia đình đông anh emvà rất nghèo. Tuy nhiên với tính cách hòa đồng, tốt bụng hay quan tâm giúp đỡngười khác, cậu rất được bạn bè quý mến và tin yêu. Khi ra trường, EQ không cónhiều lời mời phỏng vấn như IQ nhưng kết quả cậu cũng đã tìm được một công việcyêu thích. Hiện tại, với vị trí trưởng phòng, được ban lãnh đạo công ty tincậy, đồng nghiệp và khách hàng quý mến, EQ đang có một tương lai sáng sủa. Trongcuộc sống chúng ta gặp không ít những câu chuyện như vậy. Tại sao người ítthông minh lại thành công hơn người giỏi hơn mình? Có phải do họ may mắn, làmviệc chăm chỉ, hay họ có những năng lực đặc biệt? Hãy đi tìm câu hỏi cho chínhmình ! Chỉsố thông minh IQ và thông minh cảm xúc EQ ? Bạntự hào về chỉ số IQ Intelligence Quotient – chỉ số thông minh của mình. Nóthể hiện trí thông minh “thô” của bạn, nhưng nhiều chuyên gia cho rằng, nó chỉlà một yếu tố nhỏ tạo nên thành công. Bắtđầu hình thành từ năm 1912, khái niệm IQ đã “thống trị” khá lâu trong quan niệmvề thước đo phẩm chất dẫn đến thành công của con người. IQtheo quan niệm phổ thông, thường được mặc định song hành với khả năng tư nhiên, sau này, nhà tâm lý học Howard Garner đã mở rộng khái niệm IQ, khichứng minh sự tồn tại của 8 dạng thức thông minh khác nhau và các yếu tố nàyđều ảnh hưởng đến thành công của một người. Tríthông minh Intelligence được đo bằng hệ số IQ – Intelligence Quotient. IQ đolường khả năng trí lực, năng lực học hỏi, khả năng hiểu và xử lý tình huống,năng lực suy nghĩ logic, phản biện, sự nhạy bén trong suy nghĩ…Trí thông minhcó thể được đo tổng quát trong mọi lĩnh vực, và được đo theo từng lĩnh vực cụ thể. Tuynhiên càng ngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ, như người tathường nói “Với IQ người ta tuyển lựa bạn, nhưng với EQ, người ta đề bạt bạn”.Những người thành đạt không phải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Bắtđầu từ năm 1990, nhà tâm lý học Peter Salovey ở ĐH Yale và John Mayer ở ĐH NewHampshire đã đưa ra thuật ngữ Trí thông minh cảm xúc Emotional Intelligence,hoặc Emotional Quotient – EQ. EQ đo lường năng lực, khả năng hay kỹ năng củamột người trong cảm nhận, đánh giá, và quản lý cảm xúc của bản thân, của ngườikhác hay của một nhóm người. Trongmột thời gian dài người ta dùng chỉ số IQ để tìm kiếm người tài vì tin rằngngười có IQ cao sẽ có xác suất thành công cao hơn người khác. Tuy vậy một sốnghiên cứu khoa học lại cho thấy chỉ 25% số người thành công là có chỉ số IQcao hơn trung bình. Nghĩa là chỉ số IQ không giải thích được sự thành công vượttrội của 75% số người còn lại. Kết quả nghiên cứu đã loại yếu tố về năng lựcchuyên môn. Cuối cùng những người nghiên cứu khẳng định rằng chỉ số EQ mới làyếu tố quyết định sự thành công trong cuộc sống và công việc của mỗi chúng ta. Nănglực cảm xúc trong môi trường làm việc ? Trongkhi chỉ số thông minh ít khi thay đổi theo thời gian, thì chỉ số thông minh cảmxúc có thể được “học” và thay đổi vào bất cứ giai đoạn hay môi trường nào. Đểthành công trong môi trường làm việc, ông Daniel Goleman - người được xem lànhà nghiên cứu hàng đầu về EQ hiện nay đã đề xuất chúng ta phải có những nănglực xúc cảm cá nhân gồm năng lực tự nhận biết bản thân, năng lực tự điềuchỉnh, năng lực tạo động lực; và những năng lực thông minh xúc cảm xã hội gồmnăng lực thấu cảm với người khác và năng lực giao tiếp xã hội.. Nănglực tự nhận biết cảm xúc bản thângiúp chúng ta hiểu rõ cảm xúc hiện tại củamình và giúp chúng ta nhận biết vai trò quan trọng của cảm xúc đối với kết quảcông việc của mình. Biết tự đánh giá bản thân còn giúp chúng ta hiểu điểm mạnh,điểm yếu của mình, giúp chúng ta can đảm thể hiện những suy nghĩ chưa được chấpnhận, và dám một mình theo đuổi cái đúng. Trong khi đó, năng lực tự điềuchỉnhgiúp chúng ta kềm giữ mọi cảm xúc bốc đồng của bản thân, giữ được sự bìnhtĩnh, lạc quan ngay cả trong những thử thách khó khăn nhất. Đốivới những người có năng lực tạo động lực, họ thường xem kết quả của công việclà thước đo cuối cùng cho sự thành bại. Chính vì thế họ luôn cố gắng phát triểnbản thân và mong muốn vượt qua hay ít nhất đạt được những tiêu chuẩn hoàn cá nhân này luôn tìm thấy mục tiêu của bản thân trong mục tiêu của tậpthể. Họ luôn chú ý đến giá trị, mục tiêu của tổ chức trước khi ra quyết định. Bêncạnh một số năng lực kể trên, có những người còn có khả năng thấu cảm ngườikhác. Họ có thể cảm nhận, dự đoán được cảm xúc và hoàn cảnh của người khác, cókhả năng bày tỏ sự quan tâm của mình một cách chủ động đối với người khác. Hoặccũng có người cónăng lực phát triển người khác. Họ có năng lực cảm nhận đượcnhu cầu phát triển bản thân của người khác, sẵn sàng kèm cặp, hỗ trợ cho nhữngngười đó phát triển. Nóiđến năng lực giao tiếp xã hội của một người, chúng ta có thể kể đến năng lựctruyền đạt thông tin, năng lực quản lý xung đột, năng lực lãnh đạo hay năng lựctạo sự thay đổi, năng lực hợp tác với người khác… Ngườicó năng lực quản lý sự xung đột có khả năng “xử lý” những tình huống căng thẳngmột cách êm đẹp. Họ có khả năng thương thuyết và giải quyết những mối bất hòa,đưa ra giải pháp để hai bên cùng thắng. Trong khi đó người có năng lực lãnh đạosẽ tạo cảm hứng cho mọi người làm việc, làm cho họ tin và hướng theo một tầmnhìn, một mục tiêu chung. Dù ở vị trí nào họ cũng sẵn sàng tiến lên để nhậnlãnh trách nhiệm, họ tạo ảnh hưởng lên người khác bằng chính những hành độngcủa mình. Còn người có năng lực hợp tác luôn tạo ra một môi trường làm việc vìmục đích chung, trong đó mọi người đều có cơ hội để phát triển. EQmột phần là bẩm sinh nhưng cũng do giáo dục, rèn luyện mà có được. Việc giáodục tình cảm phải được thực hiện từ khi trẻ còn nhỏ, hệ thần kinh chưa trưởngthành, có nhiều cơ hội tiếp nhận những cảm xúc mới. EQ không đối lập với IQ, màmục đích của giáo dục là phát triển song song hai chỉ số này. Có những ngườiđược thiên phú cả hai, nhưng không ít người lại thiếu cả hai. Khácvới IQ đã xây dựng được một hệ thống trắc nghiệm, đo bằng con số cụ thể, EQ chưacó được một công thức tính toán riêng, vì trí thông minh xúc cảm là một phẩmchất phức tạp, biểu hiện qua những cái khó thấy như sự tự ý thức, sự thấu cảm,tính kiên trì, lạc quan, tính quyết tâm và khả năng hoạt động xã hội. Càngngày, người ta càng cho rằng EQ quan trọng hơn IQ. Những người thành đạt khôngphải là người có IQ cao nhất mà có EQ cao nhất. Ngoàira, người ta còn dùng các chỉ số khác để đánh giá khả năng thành công của conngười, đó là các chỉ số AQ, PQ, SQ và CQ.. Chỉsố vượt khó – AQ? Năm1997, nhà tâm lý học người Mỹ Paul Stoltz lần đầu tiên đưa ra 1 khái niệm mớiAQ Adversity Quotient trong cuốn sách “Adversity Quotient Turning Obstaclesinto Opportunities” AQ Xoay chuyển trở ngại thành cơ hội. Trong đó, ông địnhnghĩa, AQ là đại lượng đo khả năng đối diện và xoay sở của một người trước cácthay đổi, áp lực và các tình huống khó khăn. Tại sao một số người trở nên xuấtchúng, rất thành công, trong khi những người khác lại nản lòng, thất bại cho dùhọ có thừa thông minh hoặc tư cách tốt? Điểm khác nhau giữa họ chính là sựchênh lệch về AQ – khả năng đương đầu và đương đầu có hiệu quả trước bất hạnhvà nghịch cảnh. Trongcuốn sách xuất bản sau đó, Adversity Quotient Work, bàn kỹ hơn về vấn đềtương tự, ông giải thích cụ thể hơn cách thức áp dụng khái niệm AQ, để có thểmang lại lợi ích. PaulSloltz đã phát triển khá nhiều ý tưởng của mình từ những nhà tâm lý học đitrước, như Abraham Maslow, tác giả của tháp Maslow nổi tiếng; từ MartinSeligman, tác giả của sách “Học lạc quan”, và Stephen R. Covey, tác giả của “7thói quen của người thành đạt“. Nhiềunhà tâm lý đã ủng hộ rất nhiệt tình cho thuyết AQ này. Điều này góp phần khẳngđịnh, việc lượng hóa những phẩm chất tâm lý bậc cao là một điều có thề làm đượcnhư đã từng làm với trí tuệ IQ và cảm xúc EQ. PaulSloltz cho rằng, những người có AQ thấp thường dễ xúc động và dễ buông xuôitrước nhiều vấn đề trong cuộc sống. Trong khi, những người có AQ cao sẽ ít khiđầu hàng và dễ dàng trở thành lãnh đạo trong tương lai. Ôngphân định ra 3 dạng người dựa trên cách thức họ đối diện với những khó khăn,thử thách trong cuộc đời. Đó là Quitter, Camper và Climber. 1. Quitter Là những người dễ buông dễ dàng nản chí, dễ dàng từ bỏ việc theo đuổi 1 công việc, 1 dự định và caohơn là 1 mục đích sống. Và, kết quả là thường giữa đường đứt gánh, và nhận thấtbại, hoặc kết quả không như ý. 2. Camper Lànhững người chịu khó, làm việc chăm chỉ, có ý thức phấn đấu rèn luyện bản thân,và sẽ làm nhiều thứ để đạt tới 1 mức độ nhất định nào đó trong cuộc sống. Tuynhiên, họ dễ hài lòng và thoả hiệp với bản thân để thấy như vậy là đủ. 3. Climber Là những người có sự kiên địnhvà hoài bão lớn. Họ luôn học hỏi, rèn luyện bản thân, nỗ lực cố gắng để đạt tớinhững mức độ tốt nhất có thể trong khả năng. Họ cũng thường là tuýp người khôngchấp nhận 1 tình thế sẵn có, và tìm cách xoay sở để cải thiện nó tốt hơn. Theođó, ông coi chỉ số đo khả năng vượt qua những điều kiện khó khăn là yếu tố lớnnhất trong những phẩm chất tạo nên sự thành công cho con người. TheoPaul Sloltz, chỉ số AQ có thể đo mức độ hoài bão, nỗ lực, sự sáng tạo, nănglượng, sức khoẻ lý tính, xúc cảm và hạnh phúc của một người. Nó cũng chính làmột chỉ báo về 4 mức độ cao thấp của bản lĩnh sống 1. Đối diện khó khăn 2. Xoay chuyển cục diện 3. Vượt lên nghịch cảnh 4. Tìm được lối ra Theoquan niệm của nhiều người, IQ và EQ là những khái niệm “fix”, có nghĩa là phầnnhiều thuộc về “thiên phú”, khó có khả năng thay đổi. Trong khi đó, AQ là đạilượng có thể được rèn luyện để “cải thiện, nâng cấp”. Chỉsố say mê – PQ? Bạntự hào là người có chỉ số thông minh IQ cao. Nhưng theo các nhà khoa học, nếucó chỉ số đam mê PQ Passion Quotient thấp, bạn sẽ khó mà thành công. Sự đammê là ngọn lửa thổi bùng lên lòng nhiệt huyết, khiến mỗi chúng ta không ngừngkhám phá những tiềm năng vô tận ẩn sâu trong mỗi con người. PQlà chỉ số chỉ sự say mê của mỗi người dành cho việc anh ta làm, gọi tắt là chỉsố say mê PQ. Cóngười đã ví von rằng “Chỉ số IQ giống như một đoạn mạch ADN rất vững chắc vàrất khó để cải thiện. Còn chỉ số PQ là chất lửa trong mỗi con người, chúng tahoàn toàn có thể điều chỉnh được ngọn lửa đó.” Chỉsố PQ của con người không thể đo lường một cách chính xác. PQ không thể hiểnthị dưới dạng con số hay thống kê như IQ, nó chỉ mang tính ước đoán, hàm ý vàtượng trưng. Ngườicó chỉ số PQ cao là một tài sản quý Sựsay mê trước hết do định hướng đúng vào công việc được lựa chọn, phù hợp vớinăng lực và sở trường của mình, vào trí thông minh của mình theo như phân Arindam Chaudhari - nhà quản lý nổi tiếng Ấn Độ – cho rằng những người cóchỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ chức. Ông chỉ ranhững phẩm chất của họ là yêu thích công việc mình làm, họ luôn tận tụy, hoànthành có chất lượng bất cứ việc gì có liên quan, thất bại chỉ kích thích họ suynghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí, họ làm việc không kể giờ giấc,hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc cả trong khi nghỉ ngơi nêntìm ra những giải pháp độc đáo, sáng tạo. Họ luôn luôn nghĩ đến việc gì sẽ làmtiếp theo và tìm cách chạy đua với thời gian. Những phẩm chất đó khiến họ thànhcông trong nghề nghiệp của mình. Nếuca ngợi một nhà bác học say mê nghiên cứu, một doanh nhân say mê làm giàu thìcũng không thể phê phán một nhà chính trị say mê quyền lực, điều người tathường nhìn theo khía cạnh tiêu cực vì quyền lợi mà quyền lực mang lại. Trướcđây, trong việc đề bạt cán bộ lãnh đạo của Liên Xô, đã đưa tính chất “ham địavị” như một tiêu chuẩn chọn lựa, xét về mặt tích cực. Trongcông việc, những nhân viên làm việc với lòng say mê cao là những người được cácsếp quý trọng. Ngọn lửa say mê đến từ định hướng đúng trong công việc, chọnnghề phù hợp với năng lực và sở trường, vào trí thông minh của mỗi người. Nhữngngười có chỉ số PQ cao bao giờ cũng là tài sản quý của một cơ quan, tổ phẩm chất thường thấy ở họ là –Yêu thích công việc mình làm. –Luôn toàn tâm toàn ý hoàn thành công việc đạt chất lượng cao. – Thất bại chỉkích thích họ suy nghĩ thêm thấu đáo, chứ không làm họ nản chí. – Họ làm việckhông kể giờ giấc, hay ít ra cũng thường xuyên suy nghĩ về công việc ngay cảtrong lúc nghỉ ngơi, nên họ thường tìm ra được những giải pháp độc đáo và sángtạo. – Họ luôn luôn nghĩ đến việc sẽ làm tiếp theo và tìm cách chạy đua vớithời gian. VirenderKapoor, tác giả quyển sách “The Greatest Secret of Success Your PassionQuotient” Bí mật lớn nhất của thành công chỉ số say mê cho rằng “Chất lửatrong con người, hay chính là chỉ số say mê, đã đóng góp rất nhiều cho nhữngthành tựu kỳ diệu của nhà khoa học thiên tài Albert Einstein hơn cả chỉ số IQcủa ông.” SQ –Thông minh xã hội? Rộnghơn nữa, khả năng biết dựa vào EQ kết hợp với sự nhạy bén trong nhận thức nhữngcái mới nảy sinh trong xã hội để chủ động điều tiết cách ứng xử của mình trongcộng đồng được các nhà tâm lý học phát triển thành một khái niệm gọi là Thôngminh xã hội Social Intelligence, xác định bằng chỉ số thông minh xã hội SocialQuotient SQ. Kháiniệm này do Edgar Doll đưa ra từ năm 1937, với mục đích xác định mức độ hòanhập vào một tập thể rộng lớn thông qua khả năng đánh giá đúng người, đúngviệc, sự khôn khéo, cách xử lý có hiệu quả một cá nhân trước mỗi hiện tượng, sựkiện, mỗi tình huống cụ thể... Đasố câu hỏi trắc nghiệm chỉ số SQ dựa vào tính đối cực do Hans Eysenek đưa ratrên cơ sở các dữ liệu lâm sàng và thống kê. SQ được xem như chiếc chìa khóa đểthành công trong cuộc đời, và nếu như các chỉ số khác đều cao, cá nhân đó chắcchắn sẽ là một người thành đạt trong xã hội. Chỉsố thông minh sáng tạo – CQ? Bấtcứ hoạt động trong lĩnh vực nào cũng không chỉ dựa vào những cái có sẵn mà phảiphát triển nó lên. Tuy nhiên cách phát triển ấy ở mỗi người một khác, có thể làsự tiệm tiến, nhưng cũng có thể là những bước đột phá, những bước nhảy vọt. Khiđó, sự sáng tạo được thể hiện. Có những người cho rằng chính sự sáng tạo mớiphân biệt giữa người này với người khác và chính nó là cốt lõi của trí thôngminh. Đó là lý do để người ta đưa ra một khái niệm mới, một tiêu chí đánh giánữa, được gọi là Trí thông minh sáng tạo Creative Intelligence – CQ.Xét chocùng, chính trí thông minh sáng tạo mới làm nên lịch sử khoa học kỹ thuật vàcông nghệ, mới xây dựng được một kho tàng văn hóa nghệ thuật khổng lồ, mới thúcđẩy sự tiến hóa của nhân loại. Nhàtâm lý học người Anh Harry Adler lần đầu tiên đưa ra khái niệm này. Ông nghiêncứu vùng khu trú của những suy nghĩ sáng tạo và định nghĩa một cách đơn giản“Khả năng sáng tạo là cái loé sáng vỗ nhẹ vào vùng não phải để làm bật ra nhữngý tưởng”. Nói như vậy có nghĩa là tuy phần nào mang tính bẩm sinh, nhưng khảnăng sáng tạo vốn có trong tư duy mỗi người và hoàn toàn có thể “rèn luyện”được. Adler đã chỉ ra rằng có thể nâng cao hiệu quả của não bộ bằng cách tậpsuy nghĩ, tìm ra những cái phi thường, cái “loé sáng” trong cái bình thường vàđề xuất rất nhiều cách để tạo ra “cái vỗ nhẹ” đó. Cũng chính vì thế, mục tiêugiáo dục ở các nước tiên tiến là không chỉ cung cấp kiến thức đào tạo mà tạo ranhững người biết suy nghĩ sáng tạo. Gần đây, người ta đã xây dựng cả một ngànhkhoa học mang tên Tư duy sáng tạo” nhằm mục đích này. Lời kết Đọcnhững điều vừa kể chắc hẳn bạn sẽ nghĩ rằng, những năng lực trên tuy nghe hếtsức bình thường nhưng lại là những phẩm chất lý tưởng của mỗi cá nhân trong môitrường làm việc, đó là những phẩm chất mà chúng ta mong muốn có cho bản thânmình..cũng là chìa khóa mở cánh cửa thành công cho mọi người. Dù ở độ tuổi nào, mỗi người đều có tiềm năng để phát triển những năng lực trên. Đừng quá ỷ lại vào trí thông minh, trình độ chuyên môn mà nên tập trung nhiều hơn đến việc phát triển chỉ số EQ, phát triển năng lực cảm xúc của bản thân trongmôi trường làm việc. Cũng như Chỉ số vượt khó AQ, Chỉ số say mê PQ, Thôngminh xã hội SQ, Chỉ số thông minh sáng tạo CQ. Từ từ chúng ta sẽ nhậnbiết, quản lý bản thân tốt hơn, hiểu biết và giao tiếp với người khác hiệu quảhơn, và chắc chắn sẽ gặt hái nhiều thành công hơn trong công việc và cuộc sống! Cimigo Vietnam

eq sq cq những chỉ số của người thành đạt